• CÔNG TY LUẬT TRUNG NAM THÁI

      GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG TÔI

      XÂY DỰNG BỞI UY TÍN VÀ SỰ CHUYÊN NGHIỆP

    Tổng Đài Tư Vấn Miễn Phí

    02437757376

    GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG TÔI XÂY DỰNG BỞI UY TÍN VÀ SỰ CHUYÊN NGHIỆP

    CÔNG TY LUẬT TRUNG NAM THÁI

    ×

    BÀI VIẾT & HỎI ĐÁP

    Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật

  • Thứ sáu , Ngày 07/12/2018
  • Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào là đúng pháp luật? Để việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là hợp pháp thì phải thỏa mãn các điều kiện sau:

    Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là khi hợp đồng lao động đang còn hiệu lực, nhưng người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không phụ thuộc vào việc người sử dụng lao động có đồng ý hay không.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

    - Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

    - Hợp đồng lao động xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

    - Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

    Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào là đúng pháp luật?

    Để việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là hợp pháp thì phải thỏa mãn các điều kiện sau:

    - Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn: Người lao động chỉ cần thông báo trước cho người sử dụng lao động trước 45 ngày, mà không cần bất kỳ lý do nào.

    - Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng: Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo các trường hợp cụ thể được quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động biết theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động

    Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

    3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

     

    Luật gia:  Đỗ Thị Mỹ Hạnh

    -------------------------------------------------------

    Bản quyền nội dung bài viết thuộc Công Ty Luật TNHH Trung Nam Thái. Nghiêm cấm mọi hành vi sao chép khi chưa có sự đồng ý từ chúng tôi.

    DỊCH VỤ PHÁP LÝ TIÊU BIỂU

    HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

    Tổng Đài Tư Vấn Miễn Phí02437757376

    ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ

  • LIÊN KẾT TRANG